Danh Mục
Tin mới
Thư viện số
Ban biên tập
Chịu trách nhiệm xuất bản
Hiệu trưởng
PGS. TS. HÀ THANH VIỆT
Lượt truy cập
Đã truy cập:35907454
Đang truy cập:1589

Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục để triển khai thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

1. Đặt vấn đề

          Thực hiện công tác đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục nước ta trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 8 khóa XI,  thời gian qua, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo đã xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện công tác này, trong  đây đã tiến hành công bố công khai lấy ý kiến góp ý hoàn chỉnh  dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, triển khai thực hiện từ năm học 2018 – 2019. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để triển khai thực hiện hiệu quả chương trình này tại các cơ sở giáo dục, mà trách nhiệm chủ yếu thuộc về đội ngũ cán bộ quản lý. Bài viết xin nêu một số giải pháp bồi dưỡng cán bộ quản lý cơ sở giáo dục để nhằm triển khai thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

2. Về chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

         Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được dự thảo nêu ra với cấu trúc     gồm khối kiến kiến thức, các loại hoạt động, năng lực cốt lỗi và phẩm chất đây là những yếu tố cấu thành một học sinh mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

2.1. Về kiến thức: Được kết cấu gồm các  môn học bắt buộc là môn học mọi học sinh phải học; môn học bắt buộc có phân hóa được thiết kế thành chủ đề, có chủ đề mọi học sinh phải học, có chủ đề học sinh được tự chọn theo nguyện vọng và điều kiện đáp ứng của cơ sở; môn học tự chọn là môn học sinh được quyền lựa chọn phù hợp với sở thích, sở trường, định hướng nghề nghiệp; môn học tự chọn bắt buộc là môn học học sinh bắt buộc phải lựa chọn trong nhóm các môn học quy định có tính định hướng nghề nghiệp ở lớp 11 và 12. Theo đó, hệ thống môn học ở bậc giáo dục được nêu cụ thể như sau:

Cấp học

Môn học bắt buộc

Môn học bắt buộc có phân hóa

Môn học tự chọn

Môn học tự chọn bắt buộc

Ghi chú

Tiểu học

Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên, Tìm hiểu công nghệ

Thế giới công nghệ, Tìm hiểu tin học, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Tiếng dân tộc thiểu số

 

- Môn học bắt buộc: là môn học mọi học sinh phải học.

- Môn học bắt buộc có phân hóa: là môn học mà nội dung được thiết kế thành các chủ đề hoặc học phần, trong đó một số chủ đề hoặc học phần là bắt buộc   đối với tất cả học sinh phải học; một số chủ đề hoặc học phần được tự chọn tùy theo nguyện vọng và điều kiện đáp ứng của cơ sở giáo dục.

- Môn học tự chọn là môn học không bất buộc được học sinh tự nguyện chọn lựa chọn phù hợp với nguyện vọng, sở trường và định hướng nghề nghiệp.

Môn học tự chọn bắt buộc là môn học mà học sinh bắt buộc phải lựa chọn trong số các môn học định hướng nghề nghiệp ở lớp 11 và 12 theo quy định của chương trình giáo dục phổ thông.

 

Trung học cơ sở

Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục công dân, Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý

Tin học, Công nghệ và Hướng nghiệp, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2

 

Trung học phổ thông

Lớp 10

Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Lịch sử, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Thiết kế và Công nghệ, Giáo dục quốc phòng và an ninh

Tin học, Giáo dục thể chất, Hoạt động nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2

 

Trung học phổ thông

Lớp 11 và 12

Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và an ninh, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

 

Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2

học sinh chọn 3 môn và 1 chuyên đề học tập trong số các môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, Lịch sử, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Khoa học máy tính, Tin học ứng dụng, Thiết kế và Công nghệ, Mỹ thuật, Âm nhạc, Chuyên đề học tập

2.2. Về hoạt động:  Để lĩnh hội và tiếp nhận khối lượng kiến thức, học sinh phải  tiến hành ba loại hoạt động: hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống). Các hoạt động được thực hiện với sự hỗ trợ của đồ dùng học tập và công cụ khác, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự động hóa của kỹ thuật số. Hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lý thuyết; thực hiện bài tập, thí nghiệm, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; tham gia xêmina, tham quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng. Tùy theo mục tiêu cụ thể và mức độ phức tạp của hoạt động, học sinh được tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp. Tuy nhiên, dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi học sinh đều phải được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế.

2.3. Về năng lực, phẩm chất: Qua kiến thức được trang bị, thông qua hoạt động học tập và trải nghiệm thực tế học sinh được hình thành mười năng lực cốt lỗi: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất và sáu phẩm chất cơ bản: yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm.

2.4. Đánh giá kết quả giáo dục: Việc đánh giá kết quả giáo dục được tiến hành theo ba phương thức

         Đánh giá thường xuyên: do giáo viên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức thực hiện dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên và của phụ huynh học sinh, của bản thân học sinh được đánh giá và các học sinh khác trong tổ, lớp; Đánh giá

         Đánh giá định kỳ: do cơ sở giáo dục thực hiện sau khi học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

         Đánh giá trên diện rộng: được tiến hành ở cấp quốc gia, địa phương do tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức để phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, phát triển chương trình và nâng cao chất lượng giáo dục.

3. Yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục

         Từ chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đặt ra những  yêu cầu cần giải quyết đối với cơ sở giáo dục và đội ngũ cán bộ quản lý trong việc triển khai thực hiện chương trình này đó là:

3.1. Về tổ chức hoạt động dạy và học: Như đã nêu trên với khối lượng kiến thức được kết cấu thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc việc dạy học được tiến hành theo các phương thức thức liên môn, tích hợp, dạy học trãi nghiệm, dạy học sáng tạo….  Việc dạy học không chỉ khuôn hẹp bó buộc trong giờ học trên lớp, các hoạt động học tập còn được mở rộng ra ngoài khuôn viên nhà trường, tạo cơ hội cho học sinh bên cạnh việc học lý thuyết, làm bài tập, thực hành..., còn được tham quan, cắm trại, đọc sách, tham gia các sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng… điều này  đòi hỏi cơ sở giáo dục và đội ngũ cán bộ quản lý phải năng lực nắm  bắt, thông hiểu toàn bộ quá trình dạy học và tổ chức hoạt động dạy học để nhanh chống, kịp thời chỉ đạo, tổ chức, sắp xếp bố trí, phân công giáo viên, trang thiết bị, phương tiện đồ dùng dạy học phục vụ các hoạt động dạy học để đáp ứng yêu cầu nguyện vọng mong đợi của học sinh theo phương châm lấy học sinh làm trung tâm  

3.2. Quản trị cơ sở vật chất trang thiết bị và tài chính: Đây là những nguồn lực cần thiết để đảm bảo cho hoạt động dạy và học  được diễn  ra thuận lợi  trong môi trường học tập được trang bị cơ sở vật chất và trang thiệt bị đồng bộ, đáp ứng yêu cầu minh chứng, thực hành, tra cứu, củng cố kiến phần kiến thức lý thuyết một cách sinh động cụ thể bằng các đồ dùng trực quan, phương tiện dạy học hiện đại, phòng học đạt chuẩn… Vấn đề đạt ra cần quản trị tốt cơ sở vật chất trang thiết bị huy động thu hút các nguồn tham gia hỗ trợ đầu tư cho hoạt động giáo dục theo tinh thần xã hội hóa, việc thực hiện xã hội hóa không chỉ đơn thuần là đầu tư tài chính mà bao gồm xã hội  hóa hoạt động thực hành, trãi nghiệm sáng tạo của học sinh.

3.3. Quản lý, sử dụng và phát triển đội ngũ viên chức: Đội ngũ viên chức là người trực tiếp thực hiện việc giảng dạy và quyết định phần lớn chất lượng dạy học, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể chỉ được  thực hiện hiệu quả tại cơ sở giáo dục  khi có đội  ngũ giáo viên đủ chuyên môn, kiến thức, năng lực, kỹ năng giảng dạy chương trình này. Vậy nên, cán bộ quản lý  cơ sở giáo dục phải phải hết sức quan tâm bồi dưỡng, bố trí sử dụng để phát huy hết năng lức sở trường để đội ngũ viên chức  để họ được thắng tiến phát triển hết năng lực trong hoạt động chuyên môn giảng dạy.

3.4. Đánh giá kết quả giáo dục: Việc đánh giá kết quả giáo dục được tiến hành theo ba phương thức gồm đánh thường xuyên, đánh giá định kỳ và đánh giá trên diện rộng trong đây việc đánh giá thường xuyên và đánh giá đình kỳ được tiến hành tại cơ sở giáo dục do người đứng đầu cơ sở giáo dục chỉ đạo thực hiện và chịu trách nhiệm đối với kết quả đánh giá hoạt động học tập của học sinh và hoạt động giảng dạy của giáo viên. Vì vậy đòi hòi cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phải  có năng lực kiểm tra đánh giá và tổ chức thực hiện việc kiểm tra đánh giá quá trình học tập theo chương trình mới tại cơ sở giáo dục cho mình phụ trách.

4. Giải pháp bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục

         Để thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông tổng thể  ngoài kết cấu chương trình, tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa thì đội ngũ nhà giáo và cán bô quản lý cơ sở giáo dục là nhân tố quan trọng quyết định tính hiệu quả và chất lượng thực hiện chương trình này. Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra đã nêu ở trên, thiết nghĩ cần phải có chương trình đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục để họ trở thành những đầu tàu có đủ năng lực quản lý, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ triển khai thực hiện chương trình này tại đơn vị.

         Về chương trình đào tạo, bồi dưỡng:  Cần được nghiên cứu cẩn thận tháo đấu và thiết kế khoa học gắn với thực tiễn đảm bảo khối lượng kiến thức, tính cập nhật, bổ sung và thực hành, xử lý tình huống hình thành kỹ năng, chương trình nên thiết kế thao các theo các học phần mở gắn với vị trí quản lý của từng cấp học, địa phương, khu vực.

          Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng: Cần gắn chương trình này với vị trí việc làm, chức danh công tác, yêu cầu công việc của người tham gia đào tạo, bồi dưỡng, trong đây nên tập trung vào phần kỹ năng, năng lực tư duy, khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn của được người đào tạo, bồi dưỡng. Chuyển từ đào tạo lý luận sang bồi dưỡng, tác nghiệp hình thành kỹ năng và khả năng tư duy độc lập sáng tạo, kỹ năng giải quyết tình huống, khả năng thích ứng trước hoàn cảnh và môi trường. Nên chăng nội dung chương trình cần tập trung vào các nhóm vấn đề đó là:

         Một là, học phần về công tác quản quản lý hoạt động dạy và học tại cơ sở giáo dục:  gồm các chuyên đề về quản lý hoạt động dạy, quản lý quá trình học tập, tổ chức học tập trãi nghiệm, sáng tạo,…

         Hai là, học phần về quản trị cơ sở vật chất trang thiết bị, tài chính gồm các chuyên đề: quản trị cơ sở vật trang, trang thiết bị, đồ dùng, phương tiện dạy học,  quả trị tài chính và nguồn lực khác,…

         Ba là, học phần về quản lý và phát triển đội ngũ viên chức gồm các chuyên đề: Công tác đánh giá, phân loại viên chức; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; khen thưỡng, kỹ luật, đề bạt, bố trí sử dụng; động viên tạo động lực đề thăng tiến phát triển nghề nghiệp,….

         Bốn là, học phần về công tác quản lý hành chính cơ sở giáo dục gồm các chuyên  đề như: quản lý hành chính nhà nước về giáo dục và đào tạo; công tác hành chính tại cơ sở giáo dục,…

         Năm là, học phần về công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá cơ sở giáo dục gồm các chuyên đề như: công tác thanh tra, kiểm tra  cơ sở giáo dục; công tác  đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ tại cơ sở giáo dục, ….

         Sáu là, học phần về huy động, thu hút quản lý và sử dụng nguồn lực xã hội thao gia hoạt động giáo dục gồm các chuyên đề: huy động thu hút nguồn lực xã hội tham gia hoạt động giáo dục; quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội,….

         Công tác quản lý và cử đi đào tạo, bồi dưỡng: Cơ quan chủ quản, người đứng đầu cơ sở giáo dục và đào tạo cần chủ động cử công chức, viên chức tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng theo công tác quy hoạch cán bộ, vị trí công việc và yêu cầu công tác để đảm bảo đủ nguồn, đáp ứng các tiêu chuẩn, khả năng, năng lực công tác khi được bố trí, sử dụng gắn với yêu cầu công việc, công tác quản lý của ngành và tại đơn vị.

         Đa dạng hóa loại hình và nội dung đào tạo, bồi dưỡng: Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục đòi hỏi phải có sự đa dạng hóa về loại hình, nội dung như: bồi dưỡng cán bộ quản lý, nâng cao năng lực, bồi dưỡng chuyên đề, tác nghiệp kỹ năng, cập nhật, bổ sung kiến thức … với các hình thức đào tạo theo học phần, chương trình, theo chuyên đề, theo tín chỉ, liên kết, hợp tác đào tạo,… với thời gian thích hợp để người dự học và cơ quan, cấp quản lý có thể chủ động cử công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng mà không làm xáo trộn đến công tác chuyên môn tại cơ quan, đơn vị.

         Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng: Cần nghiên cứu, cập nhật, bổ sung, điều chỉnh một cách thường xuyên nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng; bố trí đội ngũ giảng viên giảng dạy không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn có kinh nghiệm thực tiễn, khả năng sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, xử lý tình huống thực tế đặt ra tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục để giúp học viên hình thành được kỹ năng và khả năng tác nghiệp ngay từ trong quá trình đào tạo và sau khi học có khả năng tác nghiệp theo công việc chuyên môn,ví trí công tác được bố trí sau khi cử đi đào tạo, bồi dưỡng.

         Chủ động, linh hoạt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng: Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục không chỉ tiến hành một cách thụ động, khuôn mẫu theo tiêu chuẩn chứng chỉ, chứng nhận dài hạn mà phải tiến hành thường xuyên, cập nhật và có thời hạn với nhiều loại hình, hình thức. Trong đó, coi trọng việc tự đào tạo, bồi dưỡng của người cán bộ quản lý và hình thức bồi dưỡng cập nhật, tác nghiệp kỹ năng, chuyên đề của cơ sở giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng để nhằm giải quyết vấn đề quản lý và hoạt động giáo dục, đào tạo trong bối cảnh hội nhật kinh tế quốc tế toàn cầu ngày càng sâu, rộng của nước ta hiện nay.

         Linh động và tạo điều kiện cho người học: Cần linh động và tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được tham gia đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, công tác quản lý, kỹ năng,… bằng nhiều phương thức khác nhau như: cử đi đào tao, bồi dưỡng, khuyến khích, hỗ trợ kinh phí, tạo điều kiện về thời gian,…để công chức, viên chức công tác tại cơ sở giáo dục và đào tạo có thể  chủ động tham gia đào tạo, bồi dưỡng.

         Nêu cao ý thức và tinh thần trách nhiệm trong học tập: Về phía công chức, viên chức công tác tại cơ sở giáo dục và đào tạo hơn ai hết phải tự ý thức, sắp xếp, xây dựng kế hoạch và chủ động thực hiện việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ để phục vụ cho vị trí công việc, yêu cầu công tác nhằm hoàn thiện năng lực của bản thân trong một môi trường hoạt động giáo dục, đào tạo luôn đặt ra nhiều yêu cầu đổi mới, sáng tạo và cả thách thức mà người làm việc ở đây cần phải đáp ứng và theo kịp xu thế này.

5. Một vài đề xuất, kiến nghị

         Nghị quyết số 29-NQ/TW đã chỉ rõ “cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý”, Nghị quyết số 44-NQ-CP của Chính phủ đề ra yêu cầu “đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp”, Quyết định số 2653 /QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra các giải pháp triển khai thực hiện việc phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ, công chức, viên chức quản lý giáo dục. Căn cứ các văn bản chỉ đạo trên, xin nêu  một vài đề xuất, kiến nghị đối với công tác này:

5.1. Đối với công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo:

         Là cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục và đào tạo, quản lý đội cán bộ, công chức, viên chức của ngành, cơ quan quyết định công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục hiện nay, để thực hiện tốt công tác này cần nên:

a. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở trung ương:

         Một là, chủ động tham mưu trình với cấp, ngành, người có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách về công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo như công tác quy hoạch, kế hoạch, chế độ đào tạo, nội dung, chương trình khung công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục.

         Hai là, đầu tư nguồn lực cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục để các cơ sở này được đảm bảo nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất trang thiết bị, phương tiện giảng dạy đáp ứng yêu cầu, nội dung, hình thức giảng dạy phù hợp với đối tượng người học.

         Ba là, giao thẩm quyền, phân công rõ phạm vi, đối tượng đào tạo bồi dưỡng, cơ chế tài chính, quản trị nhân sự, nội dung, chương trình, kế hoạch,… theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm để cơ sở được giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng chủ động, linh hoạt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng theo đơn đặt hàng của cơ quan quản lý, nhu cầu của cơ sở giáo dục, tổ chức, cá nhân  tham gia hoạt động giáo dục và đào tạo.

         Bốn là, làm đối mối và cầu nối trong vệc hợp tác, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm quản lý giáo dục trong nước và ngoài nước nhằm trao đổi, chuyển giao kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng quản lý giáo dục giữa các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục giữa các vùng, địa phương, khu vực và quốc tế. Thông qua đầu mối của cơ quan quản lý nhà nước cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ quản lý giáo dục có thể đẩy mạnh công tác hợp tác về đào tạo, bồi dưỡng với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước góp phần nâng cao tri thức, năng lực đào tạo của các đơn vì này.

b. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở địa phương:

         Một là, làm tốt công tác quy hoạch cán bộ và xây dựng, đề xuất kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý giáo dục của địa phương mình, đảm bảo cán bộ quản lý chưa được đào tạo trong độ tuổi sẽ được đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ cán bộ nguồn. Nên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ như: nghiệp vụ thư viện, hành chính văn phòng, quản trị cơ sở vật chất, quản lý tài chính,… để đội ngũ chuyên môn và cán bộ quản lý được thường xuyên cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn.

         Hai là, chủ động liên hệ với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đặt hàng, mở lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và các lớp bồi dưỡng chuyên đề theo nhu cầu của ngành, địa phương và yêu cầu công việc của các cở sở giáo dục trực thuộc.

         Ba là, làm tốt công tác thông báo triệu tập và cử cán bộ, công chức, viên chức tham gia đào tạo bồi dưỡng theo kế hoạch. Nên chăn cần linh hoạt, tạo điều kiện về mặt thời gian, bố trí công việc, hỗ trợ kinh phí,… để viên chức công tác tại các cơ sở giáo dục có thể tự túc đăng ký, tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng cho cá nhân gắn với yêu cầu công việc chuyên môn tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước.

         Bốn là, bố trí và đảm bảo các nguồn lực nhất là nguồn tài chính dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của ngành một cách đầy đủ, thường xuyên và liên tục vì đây là một trong những nội dung của công tác quản lý nhà nước về giáo dục.

         Năm là, thực hiện việc đánh giá kết quả và hiệu quả công việc của cán bộ, công chức, viên chức sau khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng để có nhìn nhận chính xác về công tác quy hoạch, bố trí cán bộ, đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Mạnh dạn phản hồi, đề nghị, yêu cầu, nêu mong muốn về chuẩn đầu ra và kết quả cần đạt của công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với cơ sở đảm nhận công tác đào tạo, bồi dưỡng.

5.2. Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng:

         Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng là đơn vị trực tiếp đảm nhận và thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về quản lý và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, để thực hiện tốt công việc này trong giai đoạn hiện nay cần nên: 

         Một là, chủ động xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng đa dạng về nội dung, phong phú về loại hình, hình thức đào tạo, bồi dưỡng. Trong nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần chú trọng vào việc tác nghiệp, hình thành kỹ năng, khả năng tư duy, giải quyết vấn đề, xử lý tình huống vì đấy chính là đặc trưng của công tác bồi dưỡng nghiệp vụ mà công tác đào tạo thông thường chưa thể đáp ứng được.

         Hai là, cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy và công tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các đề tài khoa học, thực hiện tham vấn chính sách cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục không chỉ riêng về công tác đào tạo, bồi dưỡng về công tác cán bộ quản lý mà cả cơ chế, chính sách trong công tác quản lý giáo dục.

         Ba là, thường xuyên tự đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng bằng các hình thức khác nhau để từ đó có cách nhìn nhận toàn bộ quá trình đào tạo, bồi dưỡng để kịp thời điều chỉnh, khắc phục hạn chế phát huy ưu điểm nhằm ngày càng nâng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.

5.3. Đối với cán bộ, công chức, viên chức:

         Cán bộ, công chức, viên chức là đối tượng của quá trình đào, bồi dưỡng, đồng thời là người nhìn nhận đánh giá chính xác nhất quá trình này. Vì vậy, khi tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và bồi dưỡng khác cần:

         Một là, chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập cá nhân, phải xác định phương châm học tập nhằm trang bị kiến thức kỹ năng cho bản thân và phục vụ công việc, yêu cầu công tác để có thái độ học tập và nghiên cứu một cách tích cực, cộng tác tránh tình trạng qua loa hình thức nhằm hợp thức hóa tiêu chuẩn 

         Hai là, chấp hành và nghiêm túc trong việc tham gia đào tạo tại cơ sở đào tạo, bồi dưỡng từ nội quy, giờ học, nội dung, chương trình, thời gian, thời lượng, hình thức kiểm tra, đánh giá, tinh thần, thái  độ học tập.

         Ba là, mạnh dạn thẳng thắng trao đổi đề xuất, đề đạt để hoàn thiện nội dung, chương trình, phương pháp nghiên cứu, tiếp cận, nêu yêu cầu và mong muốn đạt được của khóa  học đến cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, giảng viên giảng dạy, cán bộ quản lý để có sự phản hồi, điều chỉnh nội dung và phương pháp phù hợp.

         Tóm lại, muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo và năng cao chất lượng giáo dục thì phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ này, phải thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng. Nâng cao chất lượng, đào tạo, bồi dưỡng chất lượng cán bộ quản lý giáo dục làm một trong những  nhiệm vụ và giải pháp đặt ra đối với việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước ta hiện nay.  Bên cạnh việc nghiên cứu, triển khai thực hiện chương trình giáo dục phồ thông tổng thể   thiết nghĩ cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo cấp trung ương cần nên chỉ đạo cơ sở được giao nhiệm vụ  đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cơ sở được giao nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục chủ động tham mưu đề xuất xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và  cán bộ quản lý cơ sở giáo dục  để đủ năng lực thực hiện và quản lý chương trình này.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số: 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện  giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa  trong điều kiện nề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội  nhập quốc tế.

2. Chính phủ ( 2014), Nghị  quyết số: 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 Ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số: 29-NQ/TW ngày 04 tháng11 năm  hội  lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện  giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa  trong điều kiện nề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội  nhập quốc tế.

3.Chính phủ (2012), Nghị định số:29/2012/NĐ-CP  ngày 12/4/2012 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.

4. Chính phủ (2015), Nghị định số :56/2015/NĐ-CP  ngày 09/6/2015 về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Thông tư Số: 29/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 Ban hành Quy định Chuẩn hiệu trưởng trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học

6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Quyết định số: 2653/QĐ-BGDĐT ngày 25/7/2014 Ban hành kế hoạch hành động của ngành giáo dục  triển khai Chương trỉnh hành động của chính phủ thực hiện Nghị quyết số: 29-NQ/TW ngày 04 tháng11 năm  hội  lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện  giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa  trong điều kiện nề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội  nhập quốc tế.

7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

8. Lê Văn Hùng (2014), Khoa học quản lý, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.

9. Trần Kiểm (2014), Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lý giáo dục, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội.

Ths. Phạm Công Hiệp, Giảng viên Khoa Quản lý Hành chính

Trường Cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh

 

 

TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Số 7-9 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Phường Bến Nghé - Quận 1 - TP.HCM
Tel: 08-3.8291718 Fax: 08-3.8296336 | Website: iemh.edu.vn | Email: cbql.hcm@iemh.edu.vn